2.1. NHẠC KHÍ DÂY
2.1.1. NHẠC KHÍ DÂY GẢY - LOẠI CÓ DỌC (CẦN ÐÀN)
2.1.1.7. ÐÀN GHI-TA VIỆT NAM
1-Giới
thiệu sơ lược:
àn
Ghi-Ta Việt- Nam còn được gọi là Ghi-Ta phím lõm hay Ghi-Ta Vọng
Cổ, Ðàn Lục Huyền Cầm hoặc Ghi-Ta Cải lương rất thịnh hành
tại Việt Nam. Ghi-Ta Việt- Nam là cây đàn được cải biến
từ Ðàn Guitare cổ điển, phát sinh từ vùng đất Nam Bộ Việt
Nam.
2-Xếp
loại:
hi-Ta
là nhạc khí dây gảy loại có dọc (cần đàn), có nguồn gốc
từ Tây Ban Nha nhập vào Việt Nam, được người Việt cải tạo
và trở thành nhạc khí Việt Nam.
hi-ta
Việt Nam là nhạc khí dây gảy, giống như loại Guitare phối
hợp tức là Guitare cổ điển nhưng thùng đàn dẹp và cần đàn hẹp
hơn, Ghi-ta Việt Nam có bàn phím lõm khoét sâu vào dọc (cần đàn).
1-Thùng đàn:
hình tròn dẹt, đường kính 36cm.
2-Mặt
đàn: mặt đàn phẳng, làm
bằng gỗ thông nhẹ, xốp, thành đàn thấp khoảng 8,5cm làm bằng
gỗ cứng có lỗ thoát âm, trên mặt đàn có một bộ phận để mắc
dây đàn và một ngựa đàn.
3-Dọc đàn (cần đàn):
dài 62cm làm bằng gỗ cứng, thường dùng gỗ trắc, có tất cả
19 phím bằng kim loại (đồng thau) gắn đàn trên cần đàn: 12 phím
đàn gắn đàn trên dọc (cần đàn) và 7 phím gắn trên cần và mặt
đàn. Trên dọc (cần đàn), khoảng cách giữa hai ô phím, người
ta khoét lỗ sâu xuống cần đàn, để tạo ra hiệu quả âm thanh
đặc biệt, như nhấn, rung...thể hiện chữ nhạc dân tộc Việt Nam
rõ nét và sâu sắc hơn.
4-Dây đàn:
là loại dây kim khí thường là Inox, chạy qua ngựa đàn, kéo lên
cần đàn, trước khi xỏ vào trục dây được luồn qua một miếng
xương đặt trên mặt cần đàn. Qua quá trình hình thành và phát
triển, có nhiều hệä thống lên dây như:
- Dây Xề Bóp: Sòl, Ðô, Sol, Rế;
- Dây Sài Gòn: (Rề), Sol, Rê, Sol, Rế
- Dây Rạch Giá: (Rề), Sol, Rê, Sol, La,
Mí
- Dây Tứ Nguyệt: (Rề), La, Rê, La, Rế
Dây Lai: (Sol), Rê, Sol, Rê, La, Rế
- Dây Ngân Giang: Sòl, Rê, Sol, Si, Rế,
hoặc Rề, La, Rê, Fa#, La.
- Dây bán Ngân Giang: Rê, Sol, Rê, Si,
Rế
Hiện nay hệ thống dây Lai: Rê,
Sol, Rê, La, Rế (có khi 6 dây: Sol, Rê, Sol, Rê, La, Rế)
được coi là phổ biến nhất được sử dụng để biểu diễn, giảng
dạy và học tập, đặc biệt hai dây đàn số 1 và số 2 có tiết
diện nhỏ hơn dây Ghi-Ta bình thường để tạo cho âm sắc mềm mại
và thanh thoát hơn.
5-Bộ phận lên dây:
có 6 trục để lên dây, mỗi trục xuyên ngang thành đàn (ở đầu
đàn) để mắc dây và lên dây.
6-Miếng gảy đàn:
nghệ nhân gảy đàn bằng miếng nhựa với những ngón gảy, hất,
vê, khảy, móc ...
Ví dụ: (190-20)
7-Ghi-Ta
Việt Nam (điện): thùng có hình
vẹt vai, là một khối đặc hoặc có hộp cộng hưởng, dọc theo mặt
đàn, ngay dưới các dây đàn, có gắn 1 đến 4 cuộn dây điện tử
(bobine). Mặt đàn gắn một miếng nhựa để bảo vệ không bị trầy
sướt do miếng gảy đàn chạm vào. Có 3 hoặc 4 nút điều chỉnh âm
sắc và âm lượng của âm thanh phát ra. Cần đàn Ghi-Ta Việt Nam
điện dài và dẹp hơn cần đàn Ghi-Ta thùng, giữa khoảng cách của
hai phím đàn, cần đàn cũng được khoét sâu tương tự Ghi-Ta thùng.
|
Kỹ
thuật tay trái: có ngón
láy, ngón luyến, ngón bật, ngón mổ, ngón bịt và đặc biệt
là ngón vuốt vì dọc (cần đàn). Ghi-ta Việt Nam có bàn phím
lõm, ngón nầy thường kết hợp với ngón vê của tay phải.
Ngón rung ngang: còn gọi là
rung gân trong, là cách rung theo chiều ngang của dây, đối với
những âm rung có tính chất bắt buộc và thường xuyên như Xự
và Cống trong Hơi Bắc, Xang và Oan trong Hơi Nam thì có thể đặt
dấu rung ở hoá biểu nơi thích hợp trên dòng hoặc khe nhạc.
Tùy theo trình độ và thói quen, người ta có thể xử lý chữ
nhạc theo mức độ khác nhau: rung nhanh và đều đặn gọi là rung
mượt, rung nhanh và gợn sóng gọi là rung hột.
Ví dụ: (199-21)
Ngón nhấn: là dùng ngón bấm tay trái nhấn dây
xuống để tạo hiệu quả tiếng đàn cao hơn cung bậc bình thường,
ký hiệu dấu nhấn ghi trên nốt.
Ví dụ: (200-22)
Ngón nhấn luyến: là ngón nhấn một âm này đến
một hoặc nhiều âm khác có cao độ cao hoặc thấp hơn âm khởi
đầu, tất cả đều thực hiện trên cùng một ô phím. Hiệu quả
nhấn luyến tạo cho âm thanh nghe liền lạc, mềm mại và mang
đậm tính dân tộc.
Ví dụ: (201-26)
Ngón nhấn rung: là kết hợp giữa ngón nhấn và
rung, ví dụ như Xang và Oan trong Hơi Nam.
Ví dụ: (202-25)
Ngón nhấn mượn cung: là tạo
một âm nào đó bằng cách nhấn trước trên cung phím của một
bậc âm trước nó, hiệu quả âm thanh nghe tình cảm hơn so với
bấm ngay trên cung phím chính của âm nầy.
Ví dụ: (203-24)
Ngón nhấn láy: là kết hợp
giữa nhấn và láy, tùy theo hình thức láy nó có thể là nhấn
láy dài, nhấn láy ngắn, nhấn láy vỗ, nhấn láy chùm
Ví dụ: (204-23)
Ngón vuốt: là dùng ngón tay
trái vuốt đi lên hay đi xuống theo chiều dọc của dây trong khi
tay phải chỉ gảy một lần hay kết hợp với ngón vê hay ngón
phi.
Ví dụ: (205-28)
Ngón vê: Ví dụ: (206-19)
Ngón ngắt: Ví dụ: (207-29)
Ngón chặn dây: Ví dụ: (208-30)
Ví dụ: (209-31)
Bồi âm: là cách sử dụng ngón
tay trái chạm nhẹ vào giữa các phím ở các ngăn V, VII, IX,
XII, XVII trong khi tay phải gảy dây đó ở sát ngựa đàn. Cũng
có thể dùng đầu ngón trỏ của tay mặt chạm vào dây cũng trên
các ngăn trên trong khi ngón áp út của tay mặt gảy ngay dây
đó. Âm bồi có hiệu quả nghe như tiếng chuông.
Ví dụ: (210-32)
Ví dụ: (211-8goc7)

Ví dụ: (212-9)

Ví dụ: (213-17)

Ví dụ: (214-18)

Ví dụ: (215-10)

Ví dụ: (216-11)

Ví dụ: (217-12)

Ví dụ: (218-13)

Ví dụ: (219-14)

Ví dụ: (220-15)

Ví dụ: (221-33)

|