Tóm tắt Chương 4

hương 4 giới thiệu các nhạc khí màng rung và nhạc khí tự thân vang.


4.1: Nhạc khí màng rung

4.1.1: Các nhạc khí màng rung gõ:
Trống một mặt:
Trống hai mặt:
4.1.2: Các nhạc khí màng rung vỗ:
Trống một mặt:
Trống hai mặt:

4.2.: Các nhạc khí tự thân vang

4.2.1: Nhạc khí tự thân vang gõ:

Gỗ ,Tre nứa:

4.2.1.1. Phách gỗ, Phách tre

4.2.2.:Các nhạc khí tự thân vang dập, lắc:

Tre nứa: 4.2.2.1. Cặp kè hay Sênh sứa

Ðồng: 4.2.2.2. Quả nhạc hay Lục lạc

4.2.2.3. Chũm chọe, Não bạt hay Chập chõa

4.2.3:Các nhạc khí tự thân vang gõ, quẹt, lắc:

4.2.3.1. Sênh Tiền

Nhạc khí được tập hợp nhiều nhất là nhạc khí Màng rung và nhạc khí Tự thân vang. Trong nhạc khí màng rung có nhạc khí màng rung gõ, nhạc khí màng rung vỗ. Trong các loại nhạc khí Tự thân vang có nhạc khí bằng tre nứa, sừng, gõ và nhạc khí bằng đồng.

4.1.Nhạc khí màng rung:

4.1.1.Nhạc khí màng rung gõ: gồm nhiều loại trống da với đặc điểm là trống không định âm, các loại trống một mặt như Trống Bộc, Trống Chùa, Trống Mảnh; trống hai mặt như Trống Sấm, Trống Ðại, Trống Cái, Trống Chiến, Trống Ban, Trống Ðế, Trống Bản... được người Việt chế tạo do chính các nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn rất độc đáo. Trống da có nhiều loại từ trống lớn nhất đến trống nhỏ nhất được bịt bằng da như da trâu, da bò. Trống lớn hai mặt có Trống Sấm, tiếng nghe như tiếng sấm, Trống Ðại, Trống Cái, Trống Chiến... được sử dụng rộng rãi trong nhiều trường hợp : thông báo sự kiện cho dân làng, cầm Chầu trong Tuồng, Chèo, hòa tấu với dàn nhạc...Trống Cái xuất hiện từ thế kỷ XV, XVI, tham gia Dàn nhạc Triều đình, về sau tham gia các Dàn nhạc sân khấu Ca kịch Dân tộc. Trống Chầu trong Hát Bội, người cầm Chầu phải tinh thông cả nghệ thuật Hát Bội, lại nắm được nguyên tắc đánh trống để thưởng phạt diễn viên. Không phải là nhạc công cũng không phải là diễn viên nhưng người cầm Chầu thay mặt khán giả khen chê một cách kịp thời và tài tình. Người đánh Trống Chầu đươc xem như một nghệ sĩ, một nhà phê bình Hát Bội tại chỗ không cần phải trên giấy bút. Trống Chầu để mở đầu một đêm hát trong điệu khai tràng của Hát Bội, thi nhịp vỡ nước của Hát Chèo. Trong nghệ thuật Hát Tuồng (Hát Bội)Trống Chiến. Trống Chiến được xem là người bạn đường luôn sát cánh với diễn viên sân khấu. Trống Ðế được sử dụng chủ yếu cho Dàn nhạc Chèo với nhiệm vụ đế cho diễn viên hát. Trống Ðế là nhạc khí gõ âm cao. Cặp trống văn, võ hay là trống đực, trống cái của Dàn Nhạc Lễ miền Nam. Nhạc khí màng rung gõ được sử dụng rất rộng rãi trong các cộng đồng Việt Nam... người Việt rất gần gũi với tiếng trống : từ những ngày đầu mới cắp sách đến trường đã nghe tiếng trống...

Nhạc khí màng rung vỗ: Trống Bồng, Trống Cơm, Trống Phong yêu là nhạc khí có xuất xứ ở các nước, được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí Việt Nam. Trống Bồng một mặt bịt da trăn có dây căng chằng chịt sử dụng trong nhạc võ, Ðại nhạc miền Trung, Nhạc Lễ miền Nam. Trống Bồng một mặt, Trống Cơm hai mặt đều được vỗ bằng tay, trên mặt Trống Cơm ở trung tâm mặt trống có dán miếng cơm thường được sử dụng trong Hát Bội, Hát Chèo.

4.2.Nhạc khí tự thân vang:

4.2.1.Nhạc khí tự thân vang gõ:có nhiều loại như nhạc khí bằng tre, nứa, gỗ hoặc bằng đồng.

Các nhạc khí gõ bằng tre nứa, gỗ: như Phách tre, Phách gỗSênh sứa, cây tre là biểu tượng của Việt Nam. Phách được sử dụng trong các Dàn nhạc Cung đình, Dàn nhạc sân khấu Tuồng... là nhạc khí sử dụng trong các Dàn nhạc Tuồng, Chèo, Mõ sừng trâu trong Dàn nhạc Lễ. Song lang là nhạc khí sử dụng trong Ban nhạc Tài tử Nam bộ và Dàn nhạc sân khấu Cải lương. Sênh sứa là nhạc khí có mặt trong Ban nhạc Xẩm đi cùng với Mõ tre nghe rất bình dị, hài hòa.

Nhạc khí gõ bằng đồng:

Ðồng la: còn gọi là đầu đường, nhạc cụ có hình dáng như Chiêng, nhưng thành không cao bằng và không định âm, Ðồng la loại lớn âm thanh to, vang, trầm hùng.

Thanh La: thường nhỏ hơn Chiêng rất nhiều được sử dụng trong Nhạc Lễ miền Nam, đường kính của Thanh la khoảng 15cm đến 20cm miền Trung gọi là Cái Tang và miền Nam gọi là Cái Ðẩu. Ðẩu có mặt trong Dàn Nhạc Lễ gọi là "ngũ âm" cùng đánh chung với Chập chõa nhỏ, đẩu bạt do một người đánh cũng có mặt trong Dàn nhạc Chèo.

Tiu cảnh: gồm hai chiếc Thanh la cỡ nhỏ làm bằng đồng, đường kính 10cm, một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao cách nhau 1 quãng 5 đúng được treo trong hai vòng tròn của một chiếc khung có tay cầm bằng gỗ. 

Chuông: người Việt thường dùng nhiều thứ Chuông: chuông nhỏ dáng một nửa hình bầu dục, Chuông ống, Chuông voi và Chuông dẹt.

Cồng, Chiêng:  là nhạc khí bằng đồng cổ xưa, theo người Việt thì Cồng nhỏ hơn Chiêng. Chiêng là nhạc cụ hình tròn bằng đồng đường kính khoảng 45cm. Dùi dùng gõ Chiêng có bịt vải trên đầu, dùi gõ ngay giữa Chiêng tiếng ngân vang. Cồng, Chiêng làm bằng đồng thau hoặc hợp kim đồng thiếc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên, chung quanh có bờ gọi là thành. Cồng luôn luôn có núm ở giữa, Chiêng có hai loại: Chiêng có núm ở giữa gọi là Chiêng núm và Chiêng không có núm gọi là Chiêng bằng. Cồng, Chiêng có nhiều cỡ to nhỏ, dày mõng khác nhau, có loại đường kính rộng 90cm, phải treo lên giá đỡ, khi đánh lên tiếng ngân rền như sấm, có loại nhỏ đường kính chỉ 15cm, tiếng cao, trong trẻo.

Trống Ðồng: được phát hiện ở nhiều vùng có trống có xuất xứ rất xa xưa nhưng cũng có trống được đúc cách đây vài trăm năm đang được nhân dân sử dụng. Trống Ðồng được sử dụng trong sinh hoạt hội hè bên cạnh các hình thức văn nghệ dân gian khác. Trống Ðồng là "biểu tượng rực rỡ của Văn hóa đồ đồng thời Hùng Vương đã từng được coi là hiện vật mẫu mực của nền văn hóa dân tộc trong xa xưa", về nhịp điệu và tiết tấu thì Trống Ðồng có mối liên quan rất chặt chẽ đến các nhạc khí khác như Cồng, Chiêng.

Chũm Chọe: còn gọi là Chập Chõa có mặt trong Dàn Nhạc Lễ miền Nam.

Quả nhạc: là nhạc khí được đúc bằng đồng (mà nhiều người biết được qua các hình chạm khắc to, nhỏ trên Trống Ðồng thời cổ) tạo ra âm thanh có màu sắc riêng biệt.

Sênh Tiền: còn gọi là "Quán tiền phách" gồm có tiếng gõ, tiếng quẹt, tiếng lắc (đồng tiền rung). Sênh tiền là nhạc khí đặc biệt rất độc đáo của Việt Nam.