Tóm tắt Chương 1Chương 1 gồm có 3 phần, nội dung chi tiết như sau :
1.1.Sơ lược về lịch sử nhạc khí truyền thống Việt Nam:
Giới thiệu sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của nhạc khí Việt Nam. Tại Việt Nam đã tìm được rất nhiều Trống Ðồng. Viện khảo cổ có nhiều bằng chứng khoa học rằng - Trống Ðồng, loại Ngọc Lũ, đã được chế tạo tại Việt Nam, nhờ có những đồ gốm cùng tìm được cạnh trống Ðồng có hoa văn giống như hoa văn trên các trống Ðồng. Ðiều đó chứng minh được Trống Ðồng có xuất xứ tại Việt Nam do người Việt tạo nên. Các Trống Ðồng đã tìm được không những ở vùng Ðông Sơn (Thanh Hóa) mà còn ở Hà Ðông, Hà Nam, Hà Nội, Hải Phòng, Hòa Bình, Cao Bằng, Ðồng Văn, Lào Cai, Yên Bái, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Ðịnh, Nghệ An, ngay cả Kom Tum, Thủ Dầu Một (Sông Bé). Cùng với một số nhạc khí cổ xưa khác Trống Ðồng đã mang trên mình khá nhiều năm tháng mà nay vẫn còn sử dụng, tính truyền thống ở đây có một độ dày đáng kể. Ở chùa Phật Tích (cách thủ đô Hà Nội 20km) có pho tượng đầu người mình chim bằng đá của thời Lý (1010-1225) đang vỗ Trống Phong Yêu, trên những phiến đá vuông mà xưa kia người ta dùng để làm bệ kê các cột chùa to lớn, 4 mặt cạnh của các phiến đá ấy có chạm nổi dàn nhạc gồm 10 người : 2 người thổi Kềnh, 1 người gõ Phách, 1 người kéo Nhị, 1 người thổi Sáo ngang, 1 người gảy Ðàn Tranh, 1 người Ðàn Tỳ Bà, 1 người thổi Tiêu, 1 người đánh Nguyệt (hay Ðàn Tam), 1 người đánh trống như vậy từ 1.000 năm qua đã có một Dàn nhạc gồm nhạc khí Dây, Hơi và Gõ . Với tính lịch sử lâu đời của các nhạc khí Việt Nam đã góp phần cho việc xác định tính lịch sử lâu đời của nền Văn hóa Việt Nam.1.2.Xếp loại các nhạc khí truyền thống Việt Nam:
Nhạc khí sử dụng nguyên tắc phân loại của E.M.Hornbostel và C.Sachs gồm Bộ Dây, Bộ Hơi, Bộ Màng rung, Bộ Tư thân vang.
1.3.Các thuật ngữ và ký hiệu được vận dụng:
Giới thiệu các tổ chức Dàn nhạc như Dàn nhạc Cung đình và các Dàn nhạc sân khấu khác:
- A.1. Ðường thượng Chi Nhạc, A.2. Ðường hạ Chi nhạc, A.3. Dàn Ðại nhạc, A.4. Dàn nhạc Huyền, A.5. Dàn Nhã nhạc (Nhạc Thiều).
B-Dàn nhạc Tuồng (Hát Bội). C- Dàn nhạc Chèo. D- Dàn nhạc Cải lương. E- Dàn nhạc Thính phòng.F- Dàn nhạc Lễ. G- Dàn nhạc Dân gian. H- Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp.
Cho đến thời điểm năm 1983, theo tài liệu "Nghệ thuật Ðông Nam Á " (Những vấn đề lịch sử Văn hoá Ðông Nam Á : Nghệ thuật Ðông Nam Á) cho biết Dàn nhạc Cung đình còn lại 2 ban là Ðại nhạc và Nhã nhạc mà nay vẫn còn được giữ lại tại Huế để nghiên cứu như sau:
- Dàn Ðại nhạc: gồm 4 Kèn Bầu, 1 Trống võ, 1 Chập Chõa, 1 Sênh tiền, 1 Bồng, 1 Mõ sừng trâu, 1 Tam âm la, 1 Phách.
- Dàn Nhã nhạc: gồm 4 Sáo, 2 Nguyệt, 2 Nhị, 2 Tam, 1 Tỳ Bà, 1 trống nhỏ, 1 Tam âm La, 1 Sênh tiền, riêng về Dàn Nhã nhạc (Nhạc Thiều) nếu so sánh giữa tài liệu Ðại Nam Hội Ðiển Sự Lệ và "Những Ðại lễ và Vũ khúc của Vua chúa Việt Nam" (Ðỗ Bằng Ðoàn - Ðỗ Trọng Huề) thì có sự khác biệt về biên chế và dàn Nhã nhạc sau này biên chế có ít hơn nhiều.
Các nhạc khí chính của các Dàn nhạc Sân khấu khác hiện đang được sử dụng như sau:
- Dàn nhạc Tuồng (Hát Bội): gồm có Trống Chầu, Trống Chiến, Trống Cái, Trống Cơm, Trống Bát Cấu, Trống Lịnh, Chiêng, Chập Chõa, Ðàn Nhị (Cò), Ðàn Gáo (Hồ), Ðàn Nguyệt (Kìm), Ðàn Tam, Ðàn Sến, Kèn và Sáo.
- Dàn nhạc Chèo: Bộ gõ gồm Trống Ðế, Thanh La, Mõ, Trống Cơm, Trống Chầu.
Bộ Dây gồm: Nhị (Cò), Ðàn Gáo (Ðàn Hồ), Bộ Hơi gồm: Sáo ngang, Tiêu.
- Dàn nhạc Cải lương: gồm có Ðàn Nguyệt (Kìm), Ðàn Tranh, Ðàn Nhị (Cò), Ðàn Sến, Ðàn Ghi-Ta Việt Nam (phím lõm), Ðàn Violon, Sáo, Cây Củn (sử dụng trong Cải lương hát giọng Hồ Quảng) và Ðàn Organ.