Trống
Ðế
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
4.1.NHẠC
KHÍ MÀNG RUNG
Tang trống: (hộp cộng hưởng của nhạc khí) thường dùng nguyên thân của ống cây, tức là một khúc thân cây bằng gỗ mít, cao từ 18cm đến 25cm, khoét sâu thân cây (gọi là tang liền) để có hình dáng và màu âm đẹp nhưng gỗ dễ bị nứt, hoặc có thể chắp vá các gỗ mít lại làm tang trống Ðế. Dùi trống: làm bằng gỗ cứng dài từ 25cm đến 30cm, một đầu to, một đầu nhỏ, (hay tre vót tròn, nhẵn dài nặng vừa tầm tay) phía tay cầm là đầu to, phía gõ là đầu nhỏ.
4-Màu
âm:
Trên mặt Trống Ðế, có thể đánh vào giữa mặt trống, lại có thể đánh vào cạnh mặt trống , đánh vào mặt trống người ta đánh bằng đầu dùi, tiếng trống nghe vang, dòn. Ðây là cách đánh bình thường, gõ vào mặt trống và ngắt dùi ngay. Nếu gõ vào mặt trống nhưng vẫn giữ nguyên dùi ở trên mặt trống âm thanh sẽ không vang mà lại khô, xỉn. Ðánh vào cạnh mặt trống, phải đánh bạt sang bên. Trường hợp nầy có kết hợp bịt một phần mặt trống bằng tay kia, tiếng trống nghe đanh gọn, như tiếng Phách. Trống Ðế sử dụng hai dùi đánh thay đổi lần lượt và cũng có khi đánh cả hai dùi một lúc (nhất là khi gõ vào tang trống), cũng có lúc dùng một dùi để điểm xuyết nhẹ nhàng cho người hát. Ngón vê: hai tay thay đổi nhau gõ dùi liên tục, thật nhanh giữa mặt trống. Tiếng trống vang rền, ròn rã gây hiệu quả dồn dập, thúc bách. Ngón bịt: tiếng trống bịt làm màu âm thay đổi, âm thanh gợi lên sự căng thẳng, bực bội. Bịt bằng tay: một tay gõ trống, âm thanh vừa vang lên, lập tức dùng tay kia bịt lên mặt trống, tiếng trống phát ra bẹt, hơi xỉn. Bịt bằng dùi: một tay gõ trống, âm thanh vừa vang lên, lập tức dùng đuôi dùi tay kia vừa gõ bịt lên mặt trống. Tiếng trống phát ra nghe đanh, khô. Ðánh trên tang trống: đánh lên tang trống thể hiện nổi bật sự đối lập, làm hài hòa âm thanh, tiết tấu. Có hai cách đánh trên tang trống: Ngón vê: cũng như ngón vê trên thân trống, hai tay thay đổi nhau gõ thật nhanh và liên tục hai bên tang trống. Ngón róc: giống như ngón vê, hai tay thay đổi gõ nhanh vào tang trống, nhưng thường là 5 tiếng một, tiếng sau cùng có độ ngân bằng 4 tiếng đầu, và ở vào đầu phách, nghệ nhân gọi là ngón róc. Những ngón đánh trống Ðế thường là: 1- Rù trống (tương đương với lối "vê" dây đàn) hai dùi đập cái trước và cái sau thật mau và thật đều, đầu dùi gần sát mặt trống. 2- Ðiểm trống: dùi giơ cao, đánh mạnh thẳng xuống giữa mặt trống, cái trước cái sau đều hoặc cái sau theo liền gần sát cái trước hoặc cả hai cùng lúc. 3- Dập tang: cả hai thân dùi trống "dập" một lượt vào tang trống ở hai phía đối diện. Về tiết tấu có khi đánh chân phương, nhưng thường đánh biến tấu cho phong phú, sôi nổi Trường hợp buồn: thường đánh chân phương. Trường hợp vui: linh hoạt hoặc kịch tính, đánh biến tấu thêm nhiều tiếng lèo lá, thêm bớt. Dù đánh chân phương nhưng không bao giờ đánh cộc từng tiếng một mà người ta vẫn thêm những tiếng lèo lá, để tiếng trống đỡ khô khan hơn. Ton: Ví dụ:
(394-1)
Chát: Ví dụ:
(395-2)
Bịt: Ví dụ:
(396-3)
Ton-chát-bịt: Ví
dụ: (397-4)
Ví dụ: (398-5)1
đoạn Ví dụ: (399-7)
1 đoạn Ví dụ: (400-9)
1 đoạn
6- Vị trí Trống Ðế trong các Dàn nhạc:
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||