2.1.2.2.NHẠC
KHÍ DÂY KÉO (CUNG VĨ)
2.1.2.2.ÐÀN CÒ LÍU
1-Giới
thiệu sơ lược:
àn
Cò Líu giống như Ðàn Cò (Nhị) là nhạc khí dây kéo của Dân
tộc Việt (đồng bằng sông Cửu Long). Ðàn Cò Líu có tầm âm
cao nhất trong Bộ Dây Kéo.
2-Xếp loại:
àn
Cò Líu là nhạc khí dây kéo (cung vĩ) phổ biến ở nhiều nước
Châu Á. Ðàn Cò Líu được nhập vào Việt Nam và trở thành đàn
Việt Nam.
3-Hình
thức cấu tạo:
1. Bầu
cộng hưởng
2. Cần đàn
3. Trục đàn
4. Ngựa đàn
5. Dây đàn
6. Khuyết đàn (nơ đàn)
7. Cung vĩ (archet)
àn
Cò Líu còn gọi là Ðàn Cò Chỉ, cấu tạo gồm 7 bộ phận nhưng kích
thước nhỏ hơn Ðàn Cò (Nhị), âm thanh cao hơn Ðàn Cò (Nhị) khoảng
1 quãng 8.
1-Bầu cộng hưởng: đường kính vòng ngoài bầu cộng hưởng
nơi có bịt da khoảng 4,3cm, dài khoảng 13,8cm. Ðầu không bịt da
trăn đường kính vòng ngoài khoảng 3,8cm, vòng trong khoảng 3,4cm,
chỗ uốn cong của bầu cộng hưởng có chu vi khoảng 12,8cm.
2-Dọc đàn (cần đàn): làm
bằng gỗ cứng, gụ hay trắc để có sức chịu khi lên dây, cần đàn
thân tròn hoặc vuông (13mmx13mm) chiều dài khoảng 72,5cm phần
đầu cần đàn thẳng, phía dưới cần đàn xuyên thủng bầu cộng hưởng
khoảng 2cm gần về phía mặt da.
3-Trục đàn:
dùng để lên dây còn gọi là trục dây, cả hai trục đều cắm
xuyên qua đầu cần đàn, nằm theo hướng của bầu cộng hưởng. Trục
đàn dài khoảng 16cm bằng gỗ hình tròn (một đầu lớn, một đầu
nhỏ) trục được gọt thành những múi hình lục lăng để lên dây,
có khi được chạm bằng xương hay xà cừ.
4-Ngựa đàn:
làm bằng tre hay gỗ dài khoảng 1,2cm, cao khoảng 0,9cm và dày
khoảng 0,6cm, ngựa đàn đặt trên khoảng giữa mặt da (màng rung).
5-Dây đàn:
có 2 dây, trước kia làm bằng sợi tơ xe, ngày nay hay dùng dây
nylông nhưng tốt nhất là dây kim khí vì dây kim khí tiếng đàn
bảo đảm chuẩn xác tuy nhiên tiếng đàn hơi kém mềm mại. Ðàn
Cò Líu lên dây cách nhau một quãng 5 đúng, so dây theo các kiểu:
(g1 - d2 hoặc a1 - e2
hoặc d1 - a1)
Vị trí nốt trên dọc (cần đàn)
4-
Màu âm, Tầm âm:
àn
Cò Líu trong trẻo, chói sáng, biểu đạt những tình cảm
đẹp đẽ, cao thượng, vui tươi, sôi nổi... có thể gay gắt,
sắc nhọn nhất là ở những âm cao.
Tầm âm Ðàn Cò Líu rộng hơn hai quãng 8, nhưng chỉ nên viết
để diễn tấu trong hai quãng tám tính từ âm thấp nhất
trở lên.

|
Ví dụ :(264-1)

Ví dụ :(265-11)

Ví dụ :(266-9)

Ví dụ :(267-5)

Ví dụ :(268-3)

Ví dụ :(269-7)

5-Kỹ thuật diễn
tấu:
ư thế ngồi và cách gảy đàn:
ột
đặc điểm trong kỹ thuật diễn tấu của Ðàn Cò Líu là chạy nhanh,
nhất là trong khi hòa tấu, đánh thêm nhiều âm phụ (thêm chữ
đàn) trong giai điệu chính (lòng bản), thêu dệt làm cho bè cao
của dàn nhạc thêm phong phú. Về các mặt diễn tấu, các kỹ thuật
tay mặt, tay trái cũng giống như Ðàn Cò (Nhị).
6- Vị trí Ðàn Cò Líu
trong các Dàn nhạc:
àn
Cò Líu được sử dụng trong Dàn
nhạc Lễ, Dàn nhạc Tuồng,
Chèo, Dàn
Bát âm.
  
7-Những
nhạc khí tương tự ở Ðông Nam Á và các nước:
ác
loại K'ni, T'ro, có thể có gốc từ Ravanastra (Ấn Ðộ)

|